Hơn
một tháng vào mùa trổ bông, những vạt sậy mọc tự nhiên trong khu vực lâm phần rừng
tràm ở xã Khánh Lâm lại trở thành nguồn nguyên liệu được người dân tranh thủ
khai thác. Từ một loài cỏ dại tưởng chỉ có giá trị làm chổi, bông sậy nay được
thu mua, sơ chế và đưa vào chuỗi hàng hóa, tạo thêm việc làm, thu nhập cho nhiều
người dân.
Bông sậy mọc tự nhiên
trong khu vực lâm phần rừng tràm xã Khánh Lâm.
Cứ vào khoảng giữa tháng
7 âm lịch đến hết tháng 8, những vạt sậy trong khu vực lâm phần rừng tràm ở xã Khánh
Lâm bắt đầu trổ bông. Đây cũng là thời điểm người dân tranh thủ vào mùa, từ thu
hái, tước bông đến phơi, lựa và bán cho các vựa thu mua.
Với những gia đình còn
khó khăn, công việc thời vụ này mang lại khoản thu nhập không lớn nhưng thiết
thực. Em Trương Quang Quang, học sinh lớp 6, tranh thủ thời gian nghỉ học đi
hái bông sậy. Mỗi ngày, em hái được khoảng 20–30 kg bông sậy tươi, với giá bán
6.000 đồng/kg, thu nhập khoảng 150.000 đồng. Số tiền kiếm được em dành cho việc
học.
Em
Trương Quang Quang, học sinh lớp 6, tranh thủ tước lá bông sậy sau giờ học,
cùng gia đình có thêm thu nhập từ mùa sậy.
Không chỉ tạo việc làm
cho người trực tiếp thu hái, mùa bông sậy còn kéo theo nhiều công đoạn khác. Tại
ấp 14, bà Nguyễn Ngọc Hiếu tranh thủ thời gian nhàn rỗi nhận phơi bông sậy cho
vựa. Với tiền công khoảng 2.000 đồng/kg, mỗi ngày bà phơi từ 200–400 kg, thu nhập
khoảng 200.000–300.000 đồng. Sản lượng nhận phơi phụ thuộc nhiều vào thời tiết;
những ngày nắng tốt, bông nhanh khô, bà có thể nhận thêm hàng.
Bà
Nguyễn Ngọc Hiếu phơi bông sậy, công việc thời vụ giúp bà có thêm thu nhập
trong mùa sậy.
Công việc tưởng đơn giản
nhưng để một bó bông sậy từ nơi thu hái đến khi xuất bán phải qua nhiều công đoạn.
Bông được tước, đưa ra phơi, lựa và phân loại trước khi chuyển đến vựa. Mỗi
khâu đều cần thêm nhân công, qua đó tạo việc làm thời vụ cho người dân trong
khoảng thời gian mùa sậy diễn ra.
Bà Nguyễn Thị Yên, ấp 14,
là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề này. Hơn 18 năm trước, gia
đình bà bắt đầu tận dụng bông sậy mọc nhiều quanh khu vực để bó chổi. Khi giao
thông thuận lợi hơn, thương lái từ các tỉnh phía trên tìm đến thu mua, bà mở rộng
việc thu mua và rủ thêm chị em trong xóm cùng đi hái.
Bà
Nguyễn Thị Yên, đẩy bông sậy ra phơi sau khi thu mua từ người dân.
Đến nay, mỗi mùa bông sậy,
bà Yên thu nhận hơn 10 lao động tham gia các công đoạn. Lượng bông sậy tươi thu
mua trung bình từ 400–700 kg/ngày. Từ một nguồn nguyên liệu mọc tự nhiên, mùa sậy
vì thế hình thành một công việc thời vụ cho cả người thu hái lẫn người làm công
tại các điểm thu mua.
Theo bà Cao Kim Duyên, chủ
vựa thu mua Cao Duyên, tỉnh An Giang, bà đã gắn bó với vùng nguyên liệu này hơn
10 năm. Trước đây, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn, nhưng bông sậy ở khu vực
lâm phần rừng tràm Khánh Lâm có đặc điểm bông to, dài, phù hợp với yêu cầu của
thị trường.
Bà
Cao Kim Duyên, chủ vựa thu mua Cao Duyên, tỉnh An Giang, lựa và phân loại bông
sậy trước khi đóng hàng.
Sau khi thu mua, bông sậy
được lựa và phân loại lại lần cuối trước khi đóng hàng. Bông sậy khô hiện được
bà thu mua với giá khoảng 35.000 đồng/kg. Cứ khoảng hai ngày, xe từ An Giang xuống
nhận hàng, mỗi chuyến khoảng 2 tấn, đưa về cơ sở chính để tiếp tục xử lý, đóng
hàng và xuất bán, trong đó có thị trường Campuchia.
Người
dân ngồi phơi bông sậy, công việc thời vụ mang lại thêm thu nhập trong mùa sậy.
Từ những vạt sậy mọc tự
nhiên, một chuỗi công việc ngắn theo mùa đã hình thành: người đi hái, người tước,
người phơi, người lựa, vựa thu mua và khâu vận chuyển. Mùa sậy chỉ kéo dài hơn
một tháng, nhưng trong khoảng thời gian ấy, thứ cỏ dại vốn ít được chú ý lại trở
thành nguồn nguyên liệu có giá trị, giúp nhiều người dân có thêm việc làm và một
khoản thu nhập.
Điều đáng chú ý ở câu
chuyện bông sậy không nằm ở quy mô sản xuất lớn, mà ở cách người dân tận dụng
nguồn nguyên liệu sẵn có trên vùng đất lâm phần để tạo thêm sinh kế. Khi có người
thu mua và đầu ra ổn định, một loài cây mọc hoang cũng có thể bước vào chuỗi
hàng hóa, mang lại giá trị từ chính những gì vốn có trên đồng đất địa phương.